Trung tâm Khuyến nông Hà Nội đã ban hành hướng dẫn kỹ thuật mô hình nuôi thủy sản theo hướng VietGAP (nuôi thâm canh cá rô phi trong ao). Trong đó có một số biện pháp phòng trừ bệnh như sau:
- Bệnh Streptococus
Nguyên nhân: liên cầu khuẩn Streptococus
Điều kiện phát sinh: Khi thời tiết nắng nóng, nhiệt độ cao với mật độ nuôi dày, khép kín.
Dấu hiệu: Khi mới bị bệnh cá yếu bơi lờ đờ, kém ăn hoặc bỏ ăn, hậu môn, gốc vây chuyển màu đỏ; mắt, mang, cơ quan nội tạng và cơ xuất huyết, thận, gan, lá lách mền nhũn. Cá bệnh nặng bơi quay tròn không xác định hướng, mắt đục và lồi ra, bụng chướng to.
- Áp dụng phương pháp phòng bệnh tổng hợp.
- Trộn vitamin C vào thức ăn để tăng sức đề kháng cho cá.
Trị bệnh:
- Sử dụng các loại thuốc khử trùng xử lý môi trường, tiêu diệt mầm bệnh như BKC, Iodine, Vicato......
- Dùng kháng sinh như Flophenicol. Amoxicillin.... trộn vào thức ăn, liều lượng 50 - 70 mg/kg cá/ngày, cho ăn 5 - 7 ngày liên tục.
- Sau khi cá khỏi bệnh cần bổ sung chế phẩm sinh học nhằm gây lại vi sinh có lợi để cân bằng môi trường nuôi.
- Bệnh xuất huyết, viêm ruột
Nguyên nhân: Vi khuẩn Aeromonas hydrophyla hầu như luôn hiện diện trong nước lợ, nước ngọt. Ngoài ra viêm ruột còn do thức ăn kém chất lượng, nấm mốc gây ra.
Điều kiện phát sinh: Xuất hiện nhiều trên cá diêu hồng nuôi bè, bệnh xuất hiện quanh năm, nhiều nhất là vào mùa mưa, khi các yếu tố chất lượng nước thay đổi, NH3 quá cao làm cá yếu. Cá nuôi có thể nhiễm vi khuẩn ở cả giai đoạn giống lẫn giai đoạn trưởng thành với cửa ngõ xâm nhập sẽ là các vết thương trên bề mặt da của chúng và theo đường tiêu hóa vào cơ thể cá. Với mức nhiễm cao, sẽ xuất hiện các triệu chứng nặng dẫn tới tử vong.
Dấu hiệu: Cá bị xuất huyết toàn thân, bụng trương rất to, hậu môn sưng đỏ, đầu và mắt cá sưng lồi.
Phòng trị bệnh
Phòng bệnh:
- Để hạn chế thiệt hại dừng ngay thức ăn, thường xuyên kiểm tra thức ăn, tránh cho ăn thừa thức ăn và tránh thức ăn nhiễm nấm mốc, thức ăn có chất lượng kém.
- Định kỳ sử dụng chế phẩm sinh học xử lý môi trường Bio Water, EM… xử lý môi trường ao nuôi (liều lượng theo hướng dẫn trên bao bì của nhà sản xuất).
Trị bệnh:
Dùng men tiêu hóa, kết hợp bổ sung vitamin C cho cá ăn định kỳ 5 - 7 ngày/tháng/đợt, kết hợp khử trùng nguồn nước bằng các loại thuốc khử trùng như Iod, BKC,… (liều dùng theo hướng dẫn ghi trên bao bì của nhà sản xuất).
- Bệnh trắng mang, thối mang
Nguyên nhân: Vi khuẩn Myxococcus piscicolas
Điều kiện phát sinh: Vi khuẩn phát triển mạnh ở pH 6.5 - 7.5, nhiệt độ ấm từ 25 - 350C, mùa xuân, mùa thu, ở những ao ô nhiễm mùn bã hữu cơ cao
Dấu hiệu: Cá sẫm màu, tách đàn, lờ đờ trên mặt nước, giảm bắt mồi, xương nắp mang bị biến dạng, tơ mang bị thối, rách, ăn mòn, dính bệt vào nhau và nhợt nhạt, chất nhầy tiết ra nhiều cản trở hô hấp. Bề mặt xương nắp mang bị xuất huyết, ăn mòn và có hình dạng không bình thường.
Phương pháp phòng trị:
Phòng bệnh:
- Áp dụng phương pháp phòng bệnh tổng hợp.
- Định kỳ 15 ngày dùng các chế phẩm sinh học như Biobacter, Biopower... để giữ ổn định môi trường ao nuôi.
- Bổ sung thêm Vitamin C, bổ gan để tăng sức đề kháng cho cá.
Trị bệnh:
- Xử lý môi trường nước ao bằng Iod, BKC… với liều lượng theo hướng dẫn ghi trên bao bì sản phẩm.
- Dùng kháng sinh như Oxytetracyline, Amoxicillin.... trộn vào thức ăn. Cho cá ăn từ 5 - 7 ngày liều dùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
- Bệnh do virus TiLV
Nguyên nhân: Tilapia Lake Virus.
Điều kiện phát sinh: Virus phát sinh ở nhiều điều kiện khác nhau, có thể nhiễm trên mọi giai đoạn phát triển của cá, tỷ lệ chết rất cao lên tới 90% nhất là trong 1,2 tháng nuôi đầu. Bệnh lây lan rất nhanh từ cá bệnh sang cá khỏe, từ nguồn nước và các dụng cụ dùng chung.
Dấu hiệu: Cá bệnh trở nên sẫm màu, chán ăn, bơi lội không định hướng, không kéo đàn, mắt teo hay lồi ra, nhiều vết loét, bong tróc trên da, bụng phồng to, não xung huyết và xuất huyết.
Phương pháp phòng trị: Hiện nay chưa có biện pháp trị dứt điểm bệnh này, do đó, tập trung vào các biện pháp phòng bệnh là chính. Khi có hiện tượng bất thường phải báo cho cơ quan thú y gần nhất, tuyệt đối không vận chuyển cá trong ao bệnh sang vùng nuôi khác, xử lý cá chết đúng nơi quy định.
- Bệnh do Ký sinh trùng a. Trùng bánh xe (trùng mặt trời)
Điều kiện phát sinh: trùng thường phát triển mạnh vào mùa xuân, thu, nhiệt độ nước từ 25 - 300C.
Dấu hiệu: cá ngứa ngáy, tách đàn nổi trên mặt nước, trùng bám đầy làm vây, mang đầy nhớt, bạc trắng, cá không hô hấp được, ngạt thở.
Phòng và trị bệnh:
Phòng bệnh
- Dùng lá xoan bó thành các bó lớn ngâm ở các góc ao, số lượng 0,2 - 0,3kg/m3.
Trị bệnh
- Dùng CuSO4 phun trực tiếp xuống ao với nồng độ 0,5 - 0,7 ppm (0,5 - 0,7g cho 1m3 nước)
- Hoặc dùng formalin nồng độ 20 - 25ppm (20 - 25 ml/m3 nước) phun xuống ao. b.Trùng quả dưa
Điều kiện phát sinh: Thường xuất hiện vào mùa mưa, trời mát, nhiệt độ 25 - 260C, gây bệnh chủ yếu trên cá hương.
Dấu hiệu: Trên da cá có những hạt tròn lấm tấm màu trắng, trùng bám nhiều làm da mang nhiều nhớt, nhợt nhạt, cá ngạt thở do biểu mô mang bị phá hủy, cá yếu chỉ còn nổi đầu trên mặt nước, đuôi bất động, cắm xuống nước. Sau cùng cá lộn nhào mấy vòng rồi lật bụng chìm xuống đáy và chết.
Phòng và trị bệnh:
Tương tự như với bệnh trùng bánh xe. c. Sán lá đơn chủ và rận cá
Điềukiện phát sinh: Chúng thường xuất hiện khi nước mát, mùa xuân.
Dấu hiệu: Bám vào da, mang, hút máu cá, phá hoại tổ chức mang, làm mang tiết nhiều chất nhày, tạo nhiều vết viêm loét, làm cửa ngõ cho vi khuẩn nấm tấn công gây bệnh nặng hơn.
Phương pháp phòng trị: Dùng BKC 80 liều 1 lít cho 1500m nước kết hợp cho cá ăn Wirta 500 liều 5g/kg thức ăn.
- Bệnh do nấm thủy my
Điều kiện phát sinh: Khi bị lạnh cá thường chúi xuống bùn để trú ẩn và bị nấm tấn công, nhiệt độ thích hợp từ 18 - 250C khi mật độ nuôi dày, ô nhiễm, hàm lượng hữu cơ cao.
Dấu hiệu: Ban đầu trên da xuất hiện các vùng trắng xám, sau vài ngày tại đó mọc lên các sợi nấm mảnh và phát triển thành từng búi nấm trắng như bông, một đầu bám vào da cá, đầu kia tự do ngoài môi trường nước. Cá bệnh bơi hỗn loạn do bị ngứa ngáy, thích cọ sát vào các vật thể trong nước làm tróc vảy trầy da, tạo cơ hội cho vi khuẩn và ký sinh trùng gây bệnh xâm nhập làm cá bị bệnh nặng hơn.
Phương pháp phòng trị: Làm tốt các biện pháp phòng bệnh tổng hợp, diệt tạp khử trùng, ổn định pH, hạn chế những tác động cơ học hay ký sinh trùng làm cá tổn thương tạo điều kiện cho bào tử nấm xâm nhập.
- Khi có động vật thủy sản chết thì cơ sở nuôi xử lý thủy sản nuôi bị chết theo đúng cách để tránh lây lan dịch bệnh và ô nhiễm môi trường.
- Cơ sở nuôi cập nhập và lưu trữ hồ sơ: số lượng cá bị bệnh chết, việc sử dụng kháng sinh, tên kháng sinh, liều lượng, hạn sử dụng, thời gian sử dụng./.
TTKN
TTKN