Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Một số bệnh thường gặp trên cá rô phi



 

Trung tâm Khuyến nông Hà Nội đã ban hành hướng dẫn kỹ thuật mô hình nuôi thủy sản theo hướng VietGAP (nuôi thâm canh cá rô phi trong ao). Trong đó có một số biện pháp phòng trừ bệnh như sau:

  1. Bệnh Streptococus

Nguyên nhân: liên cầu khuẩn Streptococus

Điều kiện phát sinh: Khi thời tiết nắng nóng, nhiệt độ cao với mật độ nuôi dày, khép kín.

Dấu hiệu: Khi mới bị bệnh cá yếu bơi lờ đờ, kém ăn hoặc bỏ ăn, hậu môn, gốc  vây  chuyển  màu  đỏ;  mắt,  mang,  cơ  quan  nội  tạng  và  cơ  xuất  huyết,  thận, gan,  lá  lách  mền  nhũn.  Cá  bệnh  nặng  bơi  quay  tròn  không  xác  định  hướng,  mắt đục và lồi ra, bụng chướng to.

- Áp dụng phương pháp phòng bệnh tổng hợp.

- Trộn vitamin C vào thức ăn để tăng sức đề kháng cho cá.

Trị bệnh:

-  Sử  dụng  các  loại  thuốc  khử  trùng  xử  lý  môi  trường,  tiêu  diệt  mầm  bệnh như BKC, Iodine, Vicato......

-  Dùng  kháng  sinh  như  Flophenicol.  Amoxicillin....  trộn  vào  thức  ăn,  liều lượng 50 - 70 mg/kg cá/ngày, cho ăn 5 - 7 ngày liên tục.

-  Sau  khi  cá  khỏi  bệnh  cần  bổ  sung  chế  phẩm  sinh  học  nhằm  gây  lại  vi sinh có lợi để cân bằng môi trường nuôi.

  1. Bệnh xuất huyết, viêm ruột

Nguyên  nhân: Vi  khuẩn Aeromonas  hydrophyla hầu  như  luôn  hiện  diện trong  nước  lợ,  nước  ngọt.  Ngoài  ra  viêm  ruột  còn  do  thức  ăn  kém  chất  lượng, nấm mốc gây ra.

Điều kiện phát sinh: Xuất hiện nhiều trên cá diêu hồng nuôi bè, bệnh xuất hiện quanh năm,  nhiều nhất là vào mùa mưa, khi các yếu tố chất  lượng nước thay đổi, NH3 quá cao làm cá yếu. Cá nuôi có thể nhiễm vi khuẩn ở cả giai đoạn giống lẫn giai đoạn trưởng thành với cửa ngõ xâm nhập sẽ là các vết thương trên bề mặt da  của chúng và theo đường tiêu  hóa vào cơ thể  cá. Với mức nhiễm cao, sẽ xuất hiện các triệu chứng nặng dẫn tới tử vong.

Dấu hiệu: Cá bị xuất huyết  toàn thân, bụng  trương  rất  to,  hậu  môn sưng đỏ, đầu và mắt cá sưng lồi.

Phòng trị bệnh

Phòng bệnh:

-  Để hạn chế thiệt hại dừng ngay thức  ăn,  thường xuyên kiểm tra thức ăn, tránh cho ăn  thừa thức ăn và tránh thức ăn nhiễm nấm mốc,  thức ăn có chất lượng kém.

-  Định kỳ sử dụng chế phẩm sinh học xử  lý  môi trường Bio Water, EM… xử  lý môi  trường  ao nuôi (liều lượng theo hướng  dẫn  trên  bao  bì  của  nhà sản xuất).

Trị bệnh:

Dùng men tiêu hóa, kết hợp bổ sung  vitamin C cho cá ăn định kỳ  5 - 7 ngày/tháng/đợt,  kết  hợp  khử  trùng  nguồn  nước  bằng  các  loại  thuốc  khử  trùng như Iod, BKC,… (liều dùng theo hướng dẫn ghi trên bao bì của nhà sản xuất).

  1. Bệnh trắng mang, thối mang

Nguyên nhân: Vi khuẩn Myxococcus piscicolas

Điều  kiện  phát  sinh: Vi  khuẩn  phát  triển  mạnh ở pH  6.5 - 7.5,  nhiệt  độ  ấm từ 25 - 350C, mùa xuân, mùa thu, ở những ao ô nhiễm mùn bã hữu cơ cao

Dấu  hiệu:  Cá  sẫm  màu,  tách  đàn,  lờ  đờ  trên mặt nước, giảm bắt mồi, xương nắp mang  bị biến dạng, tơ mang bị thối, rách, ăn mòn,  dính bệt vào nhau và nhợt nhạt, chất nhầy tiết  ra  nhiều cản trở hô hấp. Bề mặt xương nắp mang  bị xuất huyết, ăn mòn và có hình dạng không bình thường.

Phương pháp phòng trị:

Phòng bệnh:

- Áp dụng phương pháp phòng bệnh tổng hợp.

-  Định kỳ 15 ngày dùng các chế phẩm  sinh  học như Biobacter,  Biopower... để giữ ổn định môi trường ao nuôi.

- Bổ sung thêm Vitamin C, bổ gan để tăng sức đề kháng cho cá.

Trị bệnh:

-  Xử lý môi trường nước ao bằng Iod,  BKC…  với liều lượng theo hướng dẫn ghi trên bao bì sản phẩm.

-  Dùng kháng sinh như Oxytetracyline,  Amoxicillin....  trộn  vào  thức  ăn. Cho cá ăn từ 5 - 7 ngày liều dùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

  1. Bệnh do virus TiLV

Nguyên nhân: Tilapia Lake Virus.

Điều kiện phát sinh: Virus phát sinh ở nhiều  điều kiện khác nhau, có thể nhiễm trên mọi  giai  đoạn phát triển của cá, tỷ  lệ chết rất cao lên tới  90% nhất là trong 1,2 tháng nuôi đầu. Bệnh lây  lan rất nhanh từ cá bệnh sang cá khỏe, từ nguồn nước và các dụng cụ dùng chung.

Dấu hiệu: Cá bệnh trở nên sẫm màu, chán  ăn, bơi lội không định hướng, không kéo đàn,  mắt teo hay  lồi  ra, nhiều vết  loét, bong tróc  trên da, bụng phồng to, não xung huyết và xuất huyết.

Phương pháp phòng trị: Hiện nay chưa có  biện pháp trị dứt điểm bệnh này, do đó, tập  trung vào các biện pháp phòng bệnh là chính.  Khi có hiện tượng bất  thường phải báo cho cơ  quan thú y gần nhất, tuyệt đối không vận  chuyển  cá trong ao bệnh sang vùng nuôi khác, xử lý cá chết đúng nơi quy định.

  1. Bệnh do Ký sinh trùng                                                                                                                                                                     a. Trùng bánh xe (trùng mặt trời)

Điều kiện phát sinh: trùng thường phát triển  mạnh vào mùa xuân, thu, nhiệt độ nước từ 25 - 300C.

Dấu hiệu: cá  ngứa  ngáy,  tách  đàn  nổi  trên  mặt nước, trùng  bám  đầy  làm vây, mang đầy nhớt, bạc trắng, cá không hô hấp được, ngạt thở.

Phòng và trị bệnh:

Phòng bệnh

-  Dùng lá xoan bó thành các bó lớn ngâm  ở  các góc ao,  số  lượng  0,2  - 0,3kg/m3.

Trị bệnh

-  Dùng  CuSO4 phun  trực  tiếp  xuống  ao  với  nồng  độ  0,5 - 0,7  ppm  (0,5  - 0,7g cho 1m3 nước)

  • Hoặc dùng formalin nồng độ 20 - 25ppm (20 - 25 ml/m3 nước) phun xuống ao.                                                                                                b.Trùng quả dưa

Điều kiện phát sinh: Thường xuất hiện vào  mùa mưa, trời mát, nhiệt độ 25 - 260C, gây bệnh chủ yếu trên cá hương.

Dấu hiệu: Trên da cá có những hạt  tròn lấm  tấm màu trắng, trùng bám nhiều làm da mang  nhiều nhớt, nhợt nhạt, cá ngạt thở do biểu mô  mang bị phá hủy, cá yếu chỉ còn nổi đầu trên  mặt nước, đuôi bất động, cắm xuống nước. Sau cùng cá lộn nhào mấy vòng rồi lật bụng chìm xuống đáy và chết.

Phòng và trị bệnh:

Tương tự như với bệnh trùng bánh xe.                                                                                                                                                                        c. Sán lá đơn chủ và rận cá

Điềukiện phát sinh: Chúng thường xuất hiện khi nước mát, mùa xuân.

Dấu hiệu: Bám vào da, mang, hút máu cá, phá hoại tổ chức mang, làm mang  tiết  nhiều chất nhày, tạo  nhiều  vết  viêm  loét,  làm  cửa  ngõ  cho  vi  khuẩn nấm tấn công gây bệnh nặng hơn.

Phương  pháp  phòng  trị:  Dùng BKC  80 liều  1  lít  cho  1500m nước  kết hợp cho cá ăn Wirta 500 liều 5g/kg thức ăn.

  1. Bệnh do nấm thủy my

Điều kiện phát sinh: Khi bị lạnh cá thường chúi xuống bùn để  trú  ẩn  và bị  nấm  tấn  công,  nhiệt  độ  thích  hợp  từ  18 - 250C khi  mật  độ  nuôi  dày,  ô  nhiễm, hàm lượng hữu cơ cao.

Dấu hiệu: Ban đầu trên da xuất hiện các  vùng trắng xám, sau vài ngày tại đó  mọc  lên  các sợi nấm mảnh và phát  triển  thành  từng  búi nấm trắng  như  bông, một  đầu  bám  vào  da cá,  đầu kia tự do ngoài môi trường nước. Cá bệnh  bơi hỗn loạn do bị ngứa ngáy, thích cọ sát vào  các vật thể trong nước làm tróc vảy trầy da,  tạo  cơ hội cho vi khuẩn và ký sinh trùng gây  bệnh  xâm nhập làm cá  bị bệnh nặng hơn.

Phương  pháp  phòng  trị:  Làm  tốt  các  biện  pháp  phòng  bệnh  tổng  hợp, diệt tạp khử trùng, ổn định pH, hạn chế những tác động cơ học hay ký sinh trùng làm cá tổn thương tạo điều kiện cho bào tử nấm xâm nhập.

-  Khi có động vật thủy sản chết thì cơ sở  nuôi xử  lý thủy sản nuôi bị  chết theo đúng cách để tránh lây lan dịch bệnh và ô nhiễm môi trường.

-  Cơ sở nuôi cập nhập và lưu trữ hồ sơ:  số  lượng cá bị bệnh chết, việc sử dụng kháng sinh, tên kháng sinh, liều lượng, hạn sử dụng, thời gian sử dụng./.

TTKN

 

TTKN