Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Một số biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại lúa

Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Nội vừa ban hành Thông báo về tình hình sâu bệnh hại lúa và biện pháp phòng trừ.



Tình hình sinh trưởng của lúa và sinh vật hại

  1. Tình hình sinh trưởng của lúa

Hiện nay, lúa trà sớm đang giai đoạn đòng già - trỗ bông, trà trung giai đoạn làm đòng, trà muộn giai đoạn cuối đẻ nhánh - phân hóa đòng, một số diện tích trỗ sớm giai đoạn chín sữa. Diện tích lúa đã trỗ đến ngày 19/8 là 1.946,5 ha (đạt 2,81%). Thời tiết thời gian tới tiếp tục diễn biến bất thường, hiện tượng mưa kèm theo giông, gió to có khả năng xuất hiện nhiều hơn đặc biệt là về chiều tối và đêm. Do đó gây ảnh hưởng tới sinh trưởng phát triển của cây lúa cũng như sự phát sinh gây hại của các đối tượng sâu bệnh.

  1. Tình hình sinh vật hại

- Chuột: Tỷ lệ trung bình 2 - 3% dảnh, cao 5 - 7% dảnh, cục bộ >10% dảnh. Diện

tích nhiễm nhẹ 253,97 ha; trung bình 44,37 ha; nặng 1,5 ha. Tập trung ở các xã Hòa Xá, Quảng Oai, Vật Lại,… Tiếp tục hại tăng từ nay đến cuối vụ.

- Bệnh khô vằn: Tỷ lệ trung bình 5 - 7% dảnh, cao 10 - 15% dảnh, cục bộ >30%

dảnh, cấp 1 - 3. Diện tích nhiễm nhẹ 566 ha; trung bình 87 ha; nặng 3 ha. Tập trung ở các xã Thanh Oai, Mỹ Đức, Sóc Sơn,... Bệnh tiếp tục hại tăng từ nay đến cuối vụ.

- Sâu cuốn lá nhỏ: Có hiện tượng gối lứa, gây hại kéo dài. Mật độ sâu non trung bình 3 - 5 con/m2, cao 7 - 10 con/m2, cục bộ 20 - 25 con/m2. Diện tích nhiễm nhẹ143,9 ha; trung bình 11,7 ha. Mật độ trứng trung bình 30 - 50 quả/m2, cao 80 - 100 quả/m2, cục bộ >100 quả/m2. Dự kiến trưởng thành lứa 6 vũ hóa rộ đến cuối tháng 8, sâu non gây hại mạnh trên trà trung và trà muộn giai đoạn lúa làm đòng.

- Bọ rầy: Hại nhẹ cục bộ, mật độ trung bình 30 - 50 con/m2, cao 100 - 150 con/m2, tuổi 3 - 4, cá biệt ổ 500 - 900 con/m2. Mật độ trứng trung bình 50 - 70 ổ/m2, cao 100 - 150ổ/m2. Diện tích nhiễm nhẹ 3,5 ha. Dự kiến rầy cám rộ từ 29/8 - 06/9.

- Bệnh đốm sọc vi khuẩn: Phát sinh gây hại nhanh sau mưa dông, tỷ lệ trung bình 5 - 7% lá, cao 10 - 15% lá, cục bộ >30% lá, cấp 3 - 5. Diện tích nhiễm nhẹ 1.348,6 ha; trung bình 290,7 ha; nặng 31 ha. Hại nặng ở các xã Yên Lãng, Tam Hưng, Ứng Hòa, Thanh Oai,… Ngoài ra bọ xít đen, sâu đục thân, lúa cỏ, bệnh bạc lá,… hại nhẹ.

Biện pháp phòng trừ:

Tăng cường kiểm tra đồng ruộng, phân loại trà lúa, giống lúa và xác định mật độ sâu/tỷ lệ bệnh, diện tích cần phòng trừ của từng đối tượng. Thông báo và hướng dẫn nông dân phòng trừ kịp thời, hiệu quả. Đối với những diện tích nhiễm nặng cần phải chỉ rõ đến từng ruộng, từng hộ nông dân, hướng dẫn biện pháp phòng trừ cụ thể, không để sâu bệnh phát sinh, lây lan gây hại nặng trên diện rộng.

- Đối với sâu cuốn lá nhỏ: Chú ý trà trung và trà muộn giai đoạn làm đòng, diện tích lúa xanh tốt, bón thừa đạm,… Tổ chức phun phòng trừ những diện tích lúa có mật độ sâu cuốn lá nhỏ ≥ 20 con/m2 khi sâu chủ yếu tuổi 1,2 bằng một trong các loại thuốc có chứa hoạt chất Isocycloseram, Alpha-cypermethrin, Indoxacarb … như Inpicio® 200SC, Sapen-Alpha 5EC, Vifast 5EC, Map dona 265EC, Ebato 160SC,…

- Đối với bọ rầy: Chú ý trà sớm và trà trung giai đoạn chín sữa - chín sáp. Tổ chức phun phòng trừ ở những diện tích lúa có mật độ bọ rầy ≥ 3.000 con/m2 khi rầy chủ yếu tuổi 1,2 bằng một trong các loại thuốc có chứa hoạt chất Pymetrozine, Buprofezin, Nitenpyram,... như Chess® 50WG, Cheestar 50WG, Penalty 40WP, Orgyram 70WP,... Sau khi phun thuốc 2 - 3 ngày kiểm tra lại đồng ruộng, nếu thấy mật độ bọ rầy còn cao tiếp tục phun thuốc trừ lần 2.

- Đối với sâu đục thân hai chấm: Theo dõi chặt chẽ tình hình gây hại và mật độ trứng trên đồng ruộng. Chú ý những diện tích gần ánh sáng đèn, ven làng, ven hàng cây, lúa giai đoạn đòng già - trỗ bông, lúa gieo cấy muộn hoặc phục hồi sau ngập úng,... Tổ chức phun phòng trừ khi sâu non mới nở (sau khi thấy bướm rộ 5 - 7 ngày) ở những diện tích có mật độ ổ trứng ≥ 0,3 ổ/m2 bằng một trong các loại thuốc có chứa hoạt chất Chlorantraniliprole, Isocycloseram, Spinetoram, Spinosad,… như Prevathon® 35WG, Inpicio® 200SC, Radiant® 60SC, Automex 100EC, Efphê 25EC,...

- Đối với bệnh khô vằn: Phun phòng trừ những diện tích có tỷ lệ bệnh >20% số dảnh bằng một trong các loại thuốc chứa hoạt chất Propiconazole, Hexaconazole, Difenoconazole,… như Tilt Super® 300EC, Superone 300EC, Annongvin 50SC …

- Đối với bệnh bạc lá – Đốm sọc vi khuẩn: Chú ý những giống nhiễm nặng như Bắc thơm số 7, nhóm giống TBR, Lam Sơn 10,... những diện tích lúa đã bị bệnh cần giữ nước thường xuyên trên ruộng để tăng khả năng chống chịu của cây; phun phòng trừ khi bệnh mới xuất hiện hoặc ngay sau khi mưa giông kết thúc bằng một trong các loại thuốc có chứa hoạt chất Bismerthiazol, Copper Oxychloride, Bronopol,... (Xanthomix 20WP, Riazor 215WP, New Kasuran 16.6WP, Sasumi 70WP, Totan 200WP, ...).

- Đối với chuột: Tăng cường công tác tuyên truyền về tác hại của chuột và biện pháp phòng trừ. Áp dụng linh hoạt các biện pháp diệt chuột ở những nơi còn bị chuột gây hại, ưu tiên sử dụng biện pháp thủ công (phát quang bờ, bụi, sử dụng bẫy bán nguyệt, bẫy lồng, đào bắt, hun khói,...) và biện pháp sinh học.

Chú ý: Sử dụng thuốc đúng nồng độ, liều lượng ghi trên bao bì; thu gom vỏ bao bì thuốc BVTV sau sử dụng đúng nơi quy định. Những diện tích lúa đang trỗ bông phải phun thuốc vào sáng sớm hoặc chiều mát./.

NT (TH)