Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Bệnh dịch tả lợn Châu Phi: Đặc điểm sinh học và biện pháp chăn nuôi bền vững

Bệnh dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP) là bệnh truyền nhiễm rất nguy hiểm do vi rút gây ra, có thể gây chết lợn với tỷ lệ lên đến 100%. Vi rút DTLCP chỉ lây nhiễm và gây bệnh ở lợn các loại (lợn nái, lợn đực, lợn thịt và lợn con theo mẹ), kể cả lợn rừng; tuy nhiên vi rút DTLCP không lây nhiễm và gây bệnh ở người. Bệnh có khả năng lây lan rất nhanh, ở phạm vi rộng, do tiếp xúc giữa động vật khỏe với động vật, sản phẩm động vật, thức ăn, nước uống, chất thải, dụng cụ, phương tiện vận chuyển, côn trùng,... có mang mầm bệnh.


Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Tạ Văn Tường kiểm tra công tác phòng chống bệnh dịch tả lợn Châu Phi tại xã Liên Minh.

Trên địa bàn thành phố Hà Nội, tính đến ngày 20/8/2025, dịch bệnh xảy ra tại 35 xã, 222 thôn, với 824 hộ chăn nuôi bị ảnh hưởng. Tổng số lợn buộc phải tiêu hủy là 18.193 con, tương ứng khối lượng trên 1.182 tấn. Đến nay, đã có 03 xã (Dũng Tiến, Sóc Sơn, Phúc Sơn) dịch bệnh đã qua 21 ngày.

Một số đặc điểm của vi rút Dịch tả lợn Châu Phi

Vi rút DTLCP có kích thước lớn, có vỏ bọc bên ngoài với cấu trúc khối nhiều mặt, kiểu gen di truyền dạng ADN sợi đôi và hiện nay đã phát hiện có tới 22 genotypes, cùng nhiều chủng vi rút có độc lực khác nhau (cao, trung bình và thấp). Vi rút DTLCP được tìm thấy trong máu, cơ quan, dịch bài tiết từ lợn nhiễm bệnh và chết bởi bệnh này.

Thông qua kết quả giải trình tự gen cho thấy các chủng vi rút lưu hành gồm: Năm 2023: Chủ yếu chủng DTLCP Genotype II và khoảng 15% Genotype I+II. Năm 2024: Chủ yếu chủng vi rút DTLCP là genotype II và khoảng 36% Genotype I+II. Năm 2025: Chủng vi rút DTLCP là genotype II và khoảng 45% Genotype I+II.

Sức đề kháng của vi rút

Vi rút DTLCP có sức đề kháng rất cao, có thể sống trong thời gian dài, lên đến vài tháng trong phân, trong xác lợn chết, trong các sản phẩm thịt lợn (thịt đông lạnh, thịt hun khói, thịt nấu chưa chín) vi rút có thể tồn tại trong nhiều tháng. Nhiệt độ càng lạnh vi rút tồn tại càng lâu, đặc biệt là trong các sản phẩm thịt lợn sống hoặc nấu ở nhiệt độ không cao nên vi rút có thể chịu được trong thời gian dài 3 - 6 tháng; vi rút có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 56°C trong 70 phút hoặc ở 60°C trong 20 phút. Vi rút sống trong máu đã phân hủy được 15 tuần; trong máu khô gần 70 ngày; trong phân ở nhiệt độ phòng được 11 ngày; trong máu lợn ở nhiệt độ 4°C trong 18 tháng; trong thịt dính xương ở nhiệt độ 39°C được 150 ngày; trong giăm bông được 140 ngày và ở nhiệt độ 50°C tồn tại trong 3 giờ. Vi rút có thể bị phá hủy ở pH < 3,9 hoặc ở pH > 11,5.

Tuy nhiên, vi rút DTLCP có thể bị tiêu diệt bằng một số loại thuốc sát trùng dùng trong thú y (bao gồm ether, chloroform và hợp chất iodine hoặc sử dụng Sodium hydroxide với tỉ lệ 8/1.000 hoặc formalin với tỉ lệ 3/1.000 hoặc chất tẩy trắng hypochlorite chứa chlorine 2,3% hoặc chất ortho-phenylphenol 3% nhưng phải duy trì thời gian 30 phút) hoặc bằng vôi bột.

Dịch tễ học bệnh dịch tả lợn Châu Phi

Vi rút DTLCP chỉ lây nhiễm và gây bệnh ở lợn các loại (nái, đực, thịt và lợn con theo mẹ), kể cả lợn rừng, tuy nhiên vi rút DTLCP không lây nhiễm và gây bệnh ở người. Bệnh DTLCP có thời gian ủ bệnh từ 4 - 19 ngày, ở thể cấp tính thời gian ủ bệnh chỉ khoảng 3 - 4 ngày.

Bệnh DTLCP lây nhiễm từ lợn bệnh sang lợn khỏe thông qua tiếp xúc trực tiếp, khi lợn khỏe mạnh tiếp xúc với máu, phân, chất bài tiết của lợn bệnh. Lợn khỏe mạnh có thể bị nhiểm bệnh khi ăn thức ăn thừa của con người (từ nhà hàng, khách sạn, khu công nghiệp) nhưng chưa được xử lý nhiệt, nấu chín. Lợn có thể bị nhiễm bệnh khi tiếp xúc với phương tiện, dụng cụ chăn nuôi, bao bì đựng cám, quần áo của người chăn nuôi, nguồn nước,... có mang mầm bệnh.

Bệnh lây lan nhanh, ở phạm vi rộng chủ yếu do yếu tố con người, bán chạy, giết mổ, vận chuyển lợn hoặc sản phẩm của lợn bệnh, lợn chết vì bệnh DTLCP; người tham gia xử lý lợn bệnh chưa vệ sinh, tiêu diệt mầm bệnh bám ở quần áo, ủng, giầy,...

Các phương pháp kiểm soát bệnh dịch tả lợn Châu Phi:

1. Yêu cầu về chuồng trại và trang thiết bị chăn nuôi

Kiểm soát chặt chẽ người và động vật ra vào khu vực chăn nuôi; chuồng nuôi phải dễ thực hiện các biện pháp vệ sinh, sát trùng, tiêu độc, phòng bệnh. Có lưới bao xung quanh chuồng nuôi và biện pháp khác ngăn chặn côn trùng và vật chủ trung gian truyền bệnh (chuột, chim, ruồi, muỗi,…). Tại lối ra vào chuồng nuôi phải bố trí hố khử trùng, thay bảo hộ lao động cho người ra, vào khu vực chăn nuôi.  

Nên có ô chuồng nuôi cách ly để nuôi lợn mới nhập hoặc lợn bị bệnh. 

Có khu vực thu gom và xử lý chất thải. Đường thoát nước thải từ chuồng nuôi đến khu xử lý chất thải đảm bảo kín. Nước thải ô chuồng nào thoát riêng ô chuồng đó ra đường thoát nước chung.

2. Yêu cầu con giống

Lợn nhập về nuôi phải có nguồn gốc rõ ràng, khoẻ mạnh. Đối với lợn nhập từ ngoài tỉnh phải có Giấy chứng nhận kiểm dịch. Trước khi nhập đàn, nuôi cách ly ít nhất 2 tuần. 

3. Thức ăn và nước uống

Sử dụng thức ăn có nguồn gốc rõ ràng, còn hạn sử dụng, đảm bảo chất lượng và an toàn. Trường hợp sử dụng thức ăn tận dụng phải được xử lý nhiệt trước khi cho ăn. Không sử dụng thức ăn thừa trong máng ăn của đàn lợn đã xuất chuồng và thức ăn của đàn lợn đã bị dịch bệnh cho đàn lợn mới. 

Nguồn nước cho chăn nuôi lợn phải đảm bảo an toàn. Nên bổ sung chế phẩm sinh học trong thức ăn để tăng khả năng tiêu hóa, sức đề kháng cho lợn.

4. Chăm sóc, nuôi dưỡng

Áp dụng phương thức quản lý "cùng vào - cùng ra" theo thứ tự ưu tiên: dãy chuồng, ô chuồng. Có quy trình chăn nuôi phù hợp với từng loại lợn theo các giai đoạn sinh trưởng, phát triển.

Nên áp dụng phương thức nuôi khô, không sử dụng nước tắm cho lợn. Sử dụng các chế phẩm sinh học trong nước uống, độn chuồng và định kỳ phun sương trong chuồng nuôi theo hướng dẫn của nhà sản xuất để tăng cường phòng, chống dịch. 

5. Vệ sinh và kiểm soát người ngoài ra, vào khu vực chuồng nuôi

Hạn chế tối đa người ngoài ra, vào khu vực chuồng nuôi. Trước và sau khi vào, ra khu chăn nuôi phải thay bảo hộ lao động, sát trùng tay, nhúng ủng hoặc giầy, dép vào hố khử trùng.

Chất sát trùng tại các hố sát trùng ở cổng ra vào khu chăn nuôi, chuồng nuôi phải bổ sung hoặc thay hàng ngày, cần thay đổi các loại chất sát trùng để tăng hiệu quả sát trùng.

Định kỳ phun thuốc sát trùng xung quanh khu chăn nuôi, chuồng nuôi. Định kỳ phát quang bụi rậm, khơi thông và vệ sinh cống rãnh ngoài chuồng nuôi. Vệ sinh máng ăn, máng uống hàng ngày. Thiết bị, dụng cụ và phương tiện phục vụ trong chăn nuôi phải được tiêu độc khử trùng thường xuyên.

Sau mỗi đợt nuôi phải làm vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng, dụng cụ chăn nuôi và để trống chuồng ít nhất 7 ngày trước khi đưa lợn vào nuôi. Trong trường hợp chuồng bị dịch, nếu tái đàn nên để trống chuồng ít nhất 30 ngày và được sự đồng ý của chính quyền địa phương. 

6. Kiểm soát phương tiện vận chuyển, trang thiết bị, dụng cụ chăn nuôi

Không để các phương tiện như xe máy, xe đạp, xe đẩy, xe thồ,… trong khu chuồng nuôi lợn. Phương tiện vận chuyển trước và sau khi vào chuồng nuôi phải được khử trùng, tiêu độc. Đặc biệt, không để phương tiện vận chuyển của thương lái, phương tiện vận chuyển thức ăn đến khu vực nuôi lợn. Phương tiện vận chuyển phải dừng ở bên ngoài để vệ sinh, sát trùng, tiêu độc và sử dụng xe nội bộ của khu chuồng nuôi để vận chuyển. 

Nên có phương tiện vận chuyển chuyên dụng, trường hợp dùng chung thì phải vệ sinh, tiêu độc, khử trùng trước khi sử dụng. 

7. Xử lý chất thải chăn nuôi

Chất thải được gom để xử lý phải để cuối chuồng, xa khu chuồng nuôi, xa nơi cấp nước. Chất thải phải được thu gom hàng ngày, chuyển đến nơi tập trung và xử lý bằng nhiệt, hoặc bằng hoá chất, hoặc xử lý bằng sinh học phù hợp. Chất thải rắn trước khi đưa ra ngoài phải được xử lý đảm bảo vệ sinh theo quy định hiện hành của thú y.

Các chất thải lỏng phải được dẫn trực tiếp từ các chuồng nuôi đến khu xử lý bằng đường thoát riêng. Chất thải lỏng phải được xử lý bằng hoá chất hoặc bằng phương pháp xử lý sinh học phù hợp./.

Cấn Xuân Minh – Chi cục Chăn nuôi, TS và Thú y Hà Nội