Đặc điểm sinh học
Chạch đồng: Chạch đồng có thân tròn dài, đuôi dẹp bên, nếp da trên cuống đuôi ít phát triển. Đầu nhọn, nhỏ, hơi tròn, mắt bé, ở hai bên đầu. Không có gai dưới mắt, có 5 đôi râu miệng, thân phủ vảy tròn, đầu không có vảy. Vây đuôi hình tròn, tuyến bên hoàn chỉnh. Hai bên lưng màu tro đậm, có con có đốm đen xen kẽ. Chạch sống ở tầng đáy, chủ yếu ở lớp bùn trong ao, hồ, ruộng lúa, kênh mương… Chạch ăn tạp, lúc nhỏ ăn động vật là chính, về sau chuyển dần sang ăn tạp. Giai đoạn trưởng thành ăn thực vật là chủ yếu. Nuôi trong ao chạch còn ăn các thức ăn tinh. Nhiệt độ phù hợp cho chạch sinh trưởng từ 15 - 300C, thích hợp nhất từ 25 - 270C. Ở nhiệt độ này chạch ăn khỏe và mau lớn. Khi nhiệt độ nước quá cao, hoặc quá thấp chạch rúc xuống bùn. Khi thời tiết thay đổi bất thường hay khi có triệu chứng bệnh, chạch nổi lên mặt nước. Chạch mới nở chỉ to bằng đầu kim khâu, sau 1 tháng có chiều dài 2 - 3 cm, sau nửa năm được 4 - 6 cm, chạch trưởng thành nặng 30 - 60g, con to nhất nặng 100g dài 20 cm.
Cua đồng: Cua đồng có kích thước tương đối lớn: 30 - 35 mm, mai hình hộp có gờ cao. Cua đồng cái có 4 đôi chân bụng, cua đực có 2 đôi chân bụng biến thành chân giao cấu. Ngoài ra cua đồng đực có sự chênh lệch rất lớn về độ lớn của đôi càng kẹp trong khi cua đồng cái thì tương đối đồng đều. Cua đồng là động vật sống đáy, ưa nước sạch, đào hang thích nghi với bùn sét, bùn cát. Cua đào hang ven bờ ruộng, ao, mương… Cua đồng ăn tạp nhưng thiên về động vật, cua ăn các loại thức ăn như cá tạp, ốc, hến... Độ pH thích hợp từ 5,6 - 8, nhiệt độ từ 10 - 310C, tốt nhất là 15 - 250C, lượng oxy hòa tan thấp nhất là 2mg/l.
Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng
Chọn vị trí xây dựng/bố trí ao nuôi: Vấn đề quan trọng hàng đầu trong nuôi chạch đồng và cua đồng là phải đảm bảo nguồn nước tốt và cấp tiêu chủ động; Chất đất phải giữ được nước và ít bị nhiễm phèn; Tiện đi lại và chăm sóc quản lý.
Lưu ý: Nếu có thể cần tránh bố trí ao nuôi tiếp giáp với khu sản xuất hoa màu để tránh nguy cơ bị nhiễm độc nông dược do phun xịt hay khi cấp nước vào khu nuôi.
Thiết kế ruộng nuôi: Diện tích ruộng khoảng 0,3 - 2 ha tùy theo điều kiện cụ thể. Để tiện lợi và đạt hiệu quả cao nên chọn dạng mương bao và ao trữ.
Bờ bao quanh: được đắp với diện tích như sau: Chiều rộng mặt bờ 1 - 2 m; Chiều rộng chân bờ 2 - 4 m; Chiều cao bờ phải cao hơn mực nước cao nhất trong năm 20cm; Có thể đi lại trên bờ để chăm sóc, quản lý ruộng. Xung quanh bờ ruộng phải có rào chắn bằng những vật liệu có bề mặt trơn như: Cao su, bạt nhựa…cao ít nhất 40 cm và chắn nghiêng vào trong để ngăn không cho cua bò đi.
Mương bao quanh: Được thiết kế như sau: Đào cách bờ 0,5 m để tránh đất đá xoáy lở từ bờ xuống mương; Chiều rộng mương: Bề rộng mặt 3m; Bề rộng đáy là 2,5m; Chiều sâu mương bao là 1,2 m; Mương dốc thấp dần về phía cống.
Cống: Mỗi ruộng cần có một cống, cống có thể bằng xi măng, ống sành hay gỗ tuỳ điều kiện gia đình, tốt nhất nên dùng cống xi măng. Khu vực cống phải được gia cố cẩn thận, được che chắn bằng đăng, lưới… để tránh cua đào hang.
Mặt trảng: Là phần mặt ruộng còn lại dùng để trồng lúa. Để thuận lợi cho việc canh tác lúa điều chỉnh mức nước trên ruộng, mặt ruộng cần bằng phẳng.
Sau khi thu hoạch lúa cần tiến hành sên vét lớp bùn đáy ở mương bao. Cho nước vào ngập ruộng ngâm vài ngày rồi xả bỏ. Những ruộng có hệ thống mương bao mới đào thì cần lấy nước vào ngâm vài lần để rửa phèn. Phơi mặt ruộng và đáy mương bao khoảng 2 - 3 ngày, tránh phơi quá lâu mặt ruộng bị nứt nẻ làm xì phèn.
Sử dụng vôi nung (CaO) 7 - 10 kg/100 m2. Bón vôi sau khi đáy mương bao đã được tát cạn, vôi được rải khắp mương và bờ ruộng (để tạo điều kiện pH cao thích hợp trong việc tạo thức ăn tự nhiên ban đầu có ích cho chạch và cua nuôi giai đoạn nhỏ).
Cấp nước vào ruộng nuôi phải qua lưới lọc để ngăn chặn địch hại và tép, cá tạp vào làm giảm sản lượng nuôi, cạnh tranh thức ăn. Khi mực nước trong mương bao đạt 0,8 - 1,2 m thì tiến hành thả giống.
Thả giống: Mùa vụ, mật độ nuôi và tỷ lệ thả:
Mùa vụ nuôi: 2 vụ/ năm, có thể thả giống quanh năm. Thời gian nuôi: 6 tháng. Mật độ thả: 30 con/m2. Tỷ lệ thả: Nuôi 90% chạch đồng, 10% cua đồng. Quy cỡ giống thả: Cỡ chạch đồng (≥4 - 5g/con); Cua đồng (≥4 - 5g/con).
Ngoại hình và nguồn gốc giống: Chạch và cua khỏe, có kích cỡ tương đối đồng đều, màu sắc sáng, không có dị hình, dị tật có nguồn gốc rõ ràng, được sản xuất từ cơ sở sản xuất giống đủ điều kiện.
Chất lượng con giống: Đảm bảo chất lượng theo QCVN tương ứng và các quy định khác của cơ quan có thẩm quyền.
Vận chuyển và thả giống: Nên vận chuyển và thả giống lúc trời mát để tránh gây tổn thương cho chạch và cua. Trước khi thả chạch cần ngâm bao trong nước ao từ 5 - 10 phút để cân bằng nhiệt độ bên trong bao và bên ngoài. Khi nhiệt độ bên trong và bên ngoài bao tương đối cân bằng thì mở miệng bao cho nước bên ngoài vào trong bao, sau đó hạ từ từ cho chạch bơi ra ngoài. Đối với cua thì thả cua trên mé bờ cho cua tự bò xuống mương, ruộng nước để tránh cua bị sốc môi trường và cắp nhau gây gãy càng.
Cách cho ăn: Lượng thức ăn cho ăn hàng ngày bằng 2 - 5% trọng lượng thân/ngày. Cho ăn 2 lần/ngày, sáng 8 - 9h và chiều từ 14 - 15h. Cho chạch và cua ăn theo phương pháp 4 định (định chất, định lượng, định thời gian, định vị trí), giúp quản lý thức ăn hiệu quả.
Quản lý chất lượng nước: Điều tiết nước trên ruộng: Tháng đầu không thay nước hay châm thêm nước; tháng 2 - 3 thay nước 2 lần/tháng; tháng 4 - 5 thay nước 4 lần/tháng; tháng 6 - 7 thay nước 6 lần/tháng. Cần duy trì mức nước trên ruộng tối thiểu 0,4 m nhằm ổn định nhiệt độ nhất là trong mùa nắng. Thay nước: Thay nước khi chất lượng nước xấu đi, nước có mùi hôi… chỉ nên thay nước khoảng 20 - 30% để tránh tình trạng chạch và cua bị sốc.
Oxy: Trong ruộng nuôi lượng oxy hòa tan trong nước có sự biến động giữa ngày và đêm, thấp nhất vào lúc sáng sớm và cao nhất lúc 14 giờ chiều. Cần đảm bảo hàm lượng oxy cao trong ruộng nuôi. Biện pháp để tăng cường và ổn định oxy ở mức cao là thay nước khi nước có màu quá xanh hay xám.
pH: pH trong hệ thống nuôi biến động theo sự phát triển của tảo. pH tăng khi tảo quang hợp và phát triển mạnh. Những cơn mưa đầu mùa, nhất là đối với những hệ thống nuôi mới xây dựng, sẽ rửa phèn từ bờ xuống hệ thống nuôi làm pH giảm. Ngoài ra sự phân huỷ mùn bã hữu cơ ở đáy ao cũng làm cho pH ở tầng này thấp. Dùng vôi CaO 7 - 10 kg/100m2 rải quanh bờ trước những cơn mưa lớn. Nếu pH nước xuống dưới 7 thì dùng vôi nông nghiệp CaCO3 hoặc Dolomite (đá vôi đen - CaMg(CO3)2) bón với lượng 2 - 3 kg/100m3.
Thường xuyên kiểm tra, theo dõi các dấu hiệu hoạt động của chạch và cua, môi trường ao nuôi, diễn biến của thời tiết để có biện pháp xử lý kịp thời. Định kỳ 15 ngày bắt 30 con chạch và cua trong ao cân, đo chiều dài kiểm tra tốc độ tăng trưởng điều chỉnh thức ăn cho phù hợp. Định kỳ trộn các loại vitamin, men tiêu hóa, thuốc bổ gan… giúp tăng cường sức đề kháng và hiệu quả sử dụng thức ăn.
Phòng bệnh: Việc phòng và trị bệnh cho chạch đồng và cua đồng rất quan trọng. Lý do là hai đối tượng này sống ở hai tầng nước khác nhau nhưng lại dùng chung một nguồn nước; một loại thuốc trị bệnh cho chạch nếu không cẩn thận có thể làm chết cua (hoặc ngược lại) do cua cực kỳ mẫn cảm với hóa chất và kim loại nặng. Do đó, người nuôi cần nắm được các bệnh thường gặp trên chạch đồng (như bệnh đen mang, bệnh rụng càng, thối vỏ…) và cua đồng (như bệnh nấm mang, nấm thủy mi, bệnh lở loét…) để chủ động phòng bệnh; ưu tiên sử dụng các loại thuốc thảo mộc, sinh học trong điều trị bệnh; sử dụng chế phẩm sinh học, men vi sinh phòng bệnh chủ động cho chạch đồng và cua đồng.
Thu hoạch: Sau 6 tháng nuôi, bơm nước hạ dần mức nước ruộng để chạch và cua tập trung xuống mương bao, tát cạn và thu hoạch dần.
Ngoài ra người nuôi cần lập và cập nhật, lưu trữ hồ sơ, ghi nhật ký về thả giống, chế độ cho ăn, sử dụng thuốc, chế phẩm, xuất nhập kho,... từ lúc bắt đầu nuôi cho tới sau khi thu hoạch để theo dõi, quản lý đồng thời phục vụ công tác truy xuất nguồn gốc sản phẩm./.