Về đặc điểm hình thái: Rầy nâu (Nilaparvata lugens) có cơ thể màu nâu hơi vàng, đỉnh đầu nhô ra phía trước. Phần gốc râu có 2 đốt nở to, đốt roi râu dài và nhỏ, cánh trong suốt, giữa cạnh sau của mỗi cánh trước có một đốm đen, khi hai cánh xếp lại thì hai đốm này chồng lên nhau tạo thành một đốm đen to trên lưng.
Rầy đực có cơ thể dài từ 3,6 - 4,0mm. Rầy cái màu nâu nhạt và kích thước cơ thể to hơn rầy đực; chiều dài cơ thể từ 4 - 5mm, bụng to tròn, ở khoảng giữa mặt dưới bụng có kim đẻ trứng bén nhọn màu đen.
Trưởng thành rầy nâu có 2 dạng cánh: Cánh dài che phủ cả thân và chủ yếu dùng để bay đi tìm thức ăn. Rầy có thể di cư xa hàng ngàn kilômét theo chiều gió để tìm nguồn thức ăn mới. Chúng di cư vào ban đêm, sau khi vừa vũ hóa, trước khi đẻ trứng. Cánh ngắn phủ đến đốt thứ 6 của thân mình; dạng cánh này chỉ phát sinh khi thức ăn đầy đủ, thời tiết thích hợp, và có khả năng đẻ trứng rất cao.
Đời sống trung bình của trưởng thành rầy nâu khoảng từ 10 - 20 ngày, trong thời gian đó một rầy cái cánh dài đẻ khoảng 200 - 300 trứng, và rầy cái cánh ngắn đẻ từ 300 đến 400 trứng. Nếu điều kiện thích hợp, một rầy cái có thể đẻ trên 500 trứng.
Trứng rầy nâu được đẻ thành từng hàng vào bên trong bẹ cây lúa, mỗi hàng có từ 8 - 30 cái. Trứng rầy giống hình hạt gạo, dài từ 0,3 - 0,4mm, mới đẻ màu trắng trong, sắp nở màu vàng. Phía trên đầu trứng có bộ phận che lại gọi là nắp trứng. Thời gian ủ trứng từ 5 - 14 ngày.
Rầy non hay còn gọi là rầy cám, khi mới nở rất nhỏ, màu trắng sữa, càng lớn rầy càng chuyển thành màu nâu nhạt. Ấu trùng rầy nâu tuổi lớn rất giống thành trùng cánh ngắn nhưng cánh ngắn hơn và đục, trong khi cánh của thành trùng cánh ngắn thì trong suốt với các gân rất rõ màu đậm. Rầy non có 5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 14 - 20 ngày tùy theo điều kiện nhiệt độ và nguồn thức ăn.
Về tập quán sinh sống và cách gây hại: Sau khi vũ hóa từ 3 - 5 ngày, trưởng thành cái bắt đầu đẻ trứng bằng cách rạch bẹ lá hoặc gân chính của phiến lá, gần cổ lá, khi mật số cao, đẻ vào bên trong mô thành từng hàng. Khoảng 3 ngày sau, các vết đẻ trên bẹ lúa có màu nâu do nấm bệnh xâm nhập vào, các vết này dài từ 8 - 10mm chạy dọc theo bẹ lá. Rầy cái tập trung đẻ trứng ở gốc cây lúa, cách mặt nước từ 10 - 15 cm. Rầy trưởng thành cánh dài bị thu hút nhiều bởi ánh sáng đèn và vào đèn nhiều lúc trăng tròn, bay vào đèn nhiều từ 8 - 11 giờ đêm.
Cả thành trùng và ấu trùng rầy nâu đều thích sống dưới gốc cây lúa và có tập quán bò quanh thân cây lúa hoặc nhảy xuống nước hay nhảy lên tán lá để lẩn tránh khi bị khuấy động. Rầy nâu thích tấn công cây lúa còn nhỏ, nhưng nếu mật số cao có thể gây hại mọi giai đoạn tăng trưởng của cây lúa: Khi lúa đẻ nhánh rầy chích hút nơi bẹ tạo thành những sọc màu nâu đậm dọc theo thân do nấm và vi khuẩn tấn công tiếp theo; lúa từ làm đòng đến trổ rầy thường tập trung chích hút ở cuống đòng non; lúa chín rầy tập trung lên thân ở phần non mềm.
Cả trưởng thành và rầy non đều chích hút cây lúa bằng cách cho vòi chích hút vào bó mạch li-be của mô hút nhựa. Trong khi chích hút rầy tiết nước bọt phân hủy mô cây, tạo thành một bao chung quanh vòi chích hút, cản trở sự di chuyển nhựa nguyên và nước lên phần trên của cây lúa làm cây lúa bị khô héo, gây nên hiện tượng "cháy rầy".
Ngoài ảnh hưởng gây hại trực tiếp như trên, rầy nâu còn gây hại gián tiếp cho cây lúa như: Mô cây tại các vết chích hút và đẻ trứng của rầy trên thân cây lúa bị hư do sự xâm nhập của một số loài nấm, vi khuẩn. Phân rầy tiết ra có chất đường thu hút nấm đen tới đóng quanh gốc lúa, cản trở quang hợp, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa. Rầy nâu thường truyền các bệnh lúa cỏ, lùn xoắn lá cho cây lúa, nghiêm trọng nhất là bệnh lùn xoắn lá; triệu chứng để nhận diện bệnh này là bụi lúa vẫn giữ màu xanh dù đã đến lúc thu hoạch, cây đâm thêm chồi ở các đốt phía trên, chóp lá xoắn lại và lá rách dọc theo bìa; nhìn chung, cả bụi lúa lùn hẳn và lá có màu xanh đậm; mức độ lùn của cây lúa còn tùy thuộc vào thời gian lúa bị nhiễm bệnh: Nếu cây lúa bị nhiễm bệnh sớm, trong tháng đầu sau khi cấy, bụi lúa lùn hẳn và thất thu hoàn toàn. Nếu cây lúa bị nhiễm bệnh muộn hơn, bụi lúa bị lùn ít và có thể trổ bông nhưng rất ít hoặc đòng lúa không thoát ra được, hạt bị lép nhiều, năng suất thất thu khoảng 70%. Nếu ruộng lúa bị nhiễm bệnh muộn hơn nữa, từ khi lúa tròn mình trở về sau, bụi lúa sẽ không lùn và có thể trổ bông nhưng bông lúa bị lép nhiều và có thể thất thu đến 30%.
Các yếu tố ảnh hưởng đến mật số rầy nâu: Yếu tố thức ăn và thời tiết có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành số lượng rầy cái hoặc đực cũng như dạng cánh ngắn hay dài; trong đó thức ăn là yếu tố quan trọng, đóng vai trò quyết định đối với việc tăng hoặc giảm mật số rầy nâu trên đồng ruộng; Với yếu tố thời tiết: nhiệt độ thích hợp để rầy nâu phát triển là từ 25 - 300C, khi mưa nhỏ hoặc mưa nắng xen kẽ, trời âm u rất thích hợp để rầy phát triển mật số, ẩm độ thích hợp đối với rầy nâu là từ 80 - 86%. Ngoài ra, các yếu tố thiên địch cũng ảnh hưởng đến mật số rầy nâu: có nhiều loài côn trùng ký sinh, ăn thịt và nấm bệnh gây hại mọi giai đoạn tăng trưởng của rầy nâu. Các loài thiên địch quan trọng của rầy nâu là: Bọ rùa, Kiến ba khoang, Bọ xít nước, Bọ xít mù xanh, các loài nhện, các loài ký sinh, các loài vi sinh vật.
Các biện pháp phòng trừ rầy nâu:
Thường xuyên vệ sinh đồng ruộng: Phát sạch gốc rạ, vùi chôn lúa còn sót lại và đốt đồng ngay sau khi thu hoạch, không để lúa chét phát triển;
Sử dụng giống kháng: Nên trồng nhiều giống lúa có tính kháng trung bình trên đồng ruộng cùng một lúc để tránh tình trạng rầy quen thức ăn và để tránh tăng áp lực bộc phát của rầy.
Thời vụ: Gieo mạ, cấy lúa đúng thời vụ, gọn, tránh mùa vụ gối nhau làm lúa hiện diện liên tục trên đồng ruộng. Nên có thời gian để đất trống để cắt đứt nguồn thức ăn của rầy nâu.
Phân bón: Nên bón phân với liều lượng đủ cho nhu cầu của cây lúa. Bón đúng lúc và cân đối giữa các loại phân đạm, lân, kali. Tránh bón nhiều và dư đạm, nhất là ở giai đoạn đầu và cuối của cây lúa.
Biện pháp sinh học: Cho vịt con từ 4 - 5 tuần tuổi vào ruộng lúa, khoảng 100 - 150 con/ha, thả cá như rô phi, trắm, chép vào ruộng lúa khi có điều kiện thích hợp; hoặc kết hợp mô hình sản xuất lúa-cá.
Các biện pháp khác: Dùng dầu gasoil: Cho dầu lên mặt nước ruộng xong dùng cây quơ lên lá lúa, rầy rớt xuống nước sẽ dính dầu bị chết. Lượng dầu sử dụng là 5 - 7 lít/ha; bẫy đèn: khi có rầy nâu cánh dài xuất hiện nên làm bẫy đèn để thu hút rầy tới. Hàng đêm có thể đốt đèn từ 7 - 10 giờ tối. Bẫy đèn nên làm đồng loạt nhằm mục đích chính là để theo dõi mật số rầy đang di chuyển để có biện pháp phòng trị kịp thời.
Biện pháp hóa học: Thăm ruộng thường xuyên để ghi nhận mật số của rầy cũng như của thành phần và số lượng thiên địch hiện diện trên đồng ruộng để quyết định việc áp dụng thuốc trừ rầy. Khi cần phải áp dụng thuốc thì nên theo nguyên tắc “bốn đúng” (Đúng loại thuốc, đúng liều lượng, đúng lúc, đúng cách).
Biện pháp tổng hợp (IPM): Đối với rầy nâu thì khó có biện pháp nào riêng lẻ có thể phòng trừ hữu hiệu được chúng. Do đó nên áp dụng nhuần nhuyễn nhiều biện pháp nói trên trong một vụ lúa để có thể ngăn ngừa được sự phát triển và gây hại của rầy nâu mà ít tốn kém nhất và bảo vệ được môi trường./.