Đặc điểm sinh học của lươn
Lươn đồng (Monopterus albus) là một đối tượng thuỷ sản rất quen thuộc với người dân Việt Nam. Lươn có hình thái thân dài, hình trụ, không vảy, đuôi vót nhọn, da trơn nhiều nhớt giúp trao đổi khí. Màu sắc thay đổi theo môi trường (thường nâu lưng, trắng/vàng nhạt bụng). Ngoài mang, lươn có cơ quan hô hấp phụ là da và khoang hầu, cho phép lươn sống được trong môi trường ít ôxy hoặc chui rúc trong bùn. Lươn là loài ăn động vật (tôm, giun, ấu trùng côn trùng...). Khi còn nhỏ, chúng ăn động vật phù du; khi lớn ăn động vật đáy. Lươn thích sống đáy, thích chui rúc, ưa nơi đất thịt pha sét, có nhiều mùn bã hữu cơ. Lươn chủ yếu hoạt động và kiếm ăn vào ban đêm. Lươn có hiện tượng chuyển giới tính, ban đầu là cái, sau chuyển thành đực khi lớn (cỡ nhỏ < 20cm hầu hết là cái, > 54cm hầu hết là đực).
Lươn là một đối tượng nuôi tiềm năng, sinh trưởng phát triển nhanh, có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện nuôi của người dân, có thể nuôi được ở nhiều vùng với nhiều hình thức nuôi khác nhau và phù hợp với trình độ kỹ thuật, điều kiện đầu tư của người dân địa phương, góp phần cải thiện nhu cầu dinh dưỡng, tạo ra sản phẩm hàng hóa có truy xuất nguồn gốc.
Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng
Điều kiện bể nuôi: Bố trí xây dựng bể tại nơi thông thoáng, yên tĩnh, gần khu vực có điện, thuận tiện cho việc chăm sóc quản lý, hạn chế các hoạt động gây ồn ào. Vị trí đủ điều kiện thay nước. Diện tích từ 5 - 6 m2; Thành bể cao 0,6 - 0,7m, dày 10 - 15cm, lát gạch men ở mặt trong; Mức nước từ 0,3 - 0,4m. Bể xây dựng kiên cố bằng gạch, đá, xi măng; Thiết kế mặt đáy nghiêng về phía thoát nước. Ống thoát nước có khoan lỗ bọc lưới Ф90, chiều cao 30cm; ống cấp nước Ф42, ống thoát nước Ф60-90; Phía trên bể được lợp bằng mái che.
Lưu ý: Người chăn nuôi có thể dùng bằng bể bạt hoặc bể composit để thay thế bể xi măng; Phải xây dựng hệ thống bể chứa nước, lọc nước để sử dụng cho thay nước và xử lý khi cần thiết.
Bố trí giá thể: Loại giá thể là búi nilon được cột dài 80 - 100cm. Giá thể bố trí chiếm 30 - 40% diện tích đáy bể.
Bố trí khung cho lươn ăn: Khung bao quanh búi nilon tránh thức ăn trôi dạt khắp bể.
Chuẩn bị trước khi thả giống: Tiến hành khử trùng bể nuôi, giá thể, khung cho ăn bằng Iodine với liều lượng 1ml/1m3. Nguồn nước trước khi cấp vào bể nuôi (cấp lần đầu) phải được diệt khuẩn bằng Iodine với liều lượng 1ml/1m3 sục khí trong 24h nhằm loại bỏ mầm bệnh, diệt các loại ấu trùng, ký sinh trùng. Khung cho ăn bố trí tại vị trí cố định và có thể tháo gỡ để vệ sinh. Ngừng cho lươn ăn 1 - 2 ngày trước khi phân cỡ chuyển sang bể. Tắm lươn trong dung dịch muối có nồng độ 2 - 3% trong thời gian 5 phút để loại bỏ ký sinh và sát trùng vết thương trong quá trình nuôi.
Thả giống: Mùa vụ nuôi: Giống thả phù hợp nhất bắt đầu từ tháng 3, tháng 4 dương lịch hàng năm; Thời gian nuôi: 6 tháng; Mật độ thả: 60 con/m2; Quy cỡ Lươn giống: ≥15 cm/con.
Chất lượng giống: Ngoại hình và nguồn gốc giống: Lươn giống có màu vàng, đặc trưng của loài. Lươn giống phải khỏe mạnh, không bị dị tật, không mang mầm bệnh; Đảm bảo chất lượng theo QCVN tương ứng và các quy định khác của cơ quan có thẩm quyền. Tỷ lệ sống sau khi thả nuôi phải đạt ít nhất 90%, được sản xuất từ cơ sở sản xuất giống đủ điều kiện.
Vận chuyển và thả giống: Nên vận chuyển giống lúc trời mát để tránh gây tổn thương cho Lươn, thả giống lúc sáng sớm hay chiều mát. Trước khi thả lươn cần ngâm bao trong nước ao từ 5 - 10 phút để cân bằng nhiệt độ bên trong bao và bên ngoài môi trường nước. Khi nhiệt độ bên trong và bên ngoài bao tương đối cân bằng thì mở miệng bao cho nước bên ngoài vào trong bao, sau đó hạ từ từ cho lươn bơi ra ngoài.
Chăm sóc, quản lý lươn trong quá trình nuôi: Sử dụng thức ăn viên công nghiệp có hàm lượng đạm ≥ 40%, thức ăn đáp ứng quy chuẩn Quốc gia về thức ăn thủy sản (QCVN 02-31-1:2019/BNNPTNT). Cho lươn ăn vào 6 - 7h sáng và 16 - 17h chiều hàng ngày; khẩu phần ăn từ 1 - 2% trọng lượng thân lươn trong 10 - 15 ngày đầu; sau đó, tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của lươn để cho lươn ăn với khẩu phần ăn từ 2-8% tổng trọng lượng lươn nuôi. Theo dõi mức ăn của lươn để hạn chế thức ăn thừa, 1 - 2 giờ sau khi cho lươn ăn nên kiểm tra và vớt bỏ phần thức ăn thừa. Trong quá trình chăm sóc, khi cho lươn ăn phải nắm vững nguyên tắc “4 định” (định chất, định lượng, định thời gian, định vị trí) nhằm điều chỉnh lượng thức ăn một cách hợp lý:
+ Ðịnh chất là thức ăn phải đảm bảo đủ chất lượng theo tốc độ tăng trưởng của lươn nuôi, thức ăn công nghiệp phải còn hạn sử dụng, đúng độ đạm cần thiết theo từng giai đoạn phát triển.
+ Ðịnh lượng là vừa đủ no, không để thức ăn thừa (lươn rất tham ăn dễ bị bội thực).
+ Ðịnh thời gian: chọn thời gian thích hợp cho lươn ăn từ 7 - 8h sáng, 15 - 17h chiều.
+ Ðịnh vị trí: Vị trí đặt sàng ăn phải cố định.
Định kỳ 1 tháng/1 lần hoặc thấy lươn phân đàn, kích cỡ không đều ta tiến hành phân cỡ lươn, tránh tình trạng lươn sẽ ăn lẫn nhau. Trước khi phân cỡ cho lươn nhịn ăn 1 ngày, dùng sàn trơn láng hoặc vợt để phân loại cỡ lươn tránh dùng tay bắt lươn.
Định kỳ bổ sung men tiêu hoá, khoáng vi lượng, vitamin C nhằm tăng cường sức đề kháng và giúp lươn tăng trưởng nhanh. Định kỳ 15 ngày bắt 30 con lươn cân, đo chiều dài kiểm tra tốc độ tăng trưởng điều chỉnh thức ăn cho phù hợp.
Ghi chép đầy đủ lượng thức ăn hàng ngày, hàng tuần và tổng hợp lượng thức ăn hàng tháng.
Quản lý môi trường nuôi: Định kỳ kiểm tra các yếu tố môi trường nuôi như pH, Oxy, NH3, NO2,… trước và sau mỗi lần thay nước bể nuôi. Thay nước 2 lần/ngày để tạo môi trường trong sạch cho lươn phát triển. Thường xuyên vệ sinh giá thể (2 lần/ tuần) và khung cho ăn trong quá trình thay nước. Sau 1 - 1,5 tháng dùng vợt phân cỡ một lần theo từng nhóm lươn, trước khi phân cỡ cho lươn nhịn ăn từ 1 - 2 ngày để lươn bài tiết hết thức ăn. Định kỳ 10 - 15 ngày tắm cho lươn bằng nước muối với nồng độ 1 - 2% để ngừa bệnh cho lươn. Cần giữ nhiệt độ ổn định cho môi trường nuôi, nếu độ chênh lệch nhiệt độ nước bể nuôi trong ngày > 50C ảnh hưởng rất lớn đến khả năng bắt mồi của lươn: ăn ít và chậm phát triển. Thường xuyên kiểm tra bể nuôi nhằm tránh thất thoát trong quá trình nuôi. Tiến hành tẩy giun cho lươn định kỳ 30 ngày/ lần. Sử dụng thuốc Fugacar 1 viên/30 kg lươn hoặc dùng Praziqualtell trộn vào thức ăn.
Quản lý dịch bệnh trong bể nuôi: Trong quá trình nuôi thường xảy ra một số bệnh như bệnh sốc môi trường, nấm thủy mi, hội chứng lở loét và bệnh nội ngoại ký sinh. Định kỳ trộn các loại vitamin, men tiêu hóa, thuốc bổ gan,… giúp tăng cường sức đề kháng cho lươn là biện pháp phòng bệnh hiệu quả. Định kỳ sử dụng chế phẩm sinh học 2 tuần/1 lần, xử lý môi trường nước trong 6 tháng để ổn định môi trường và tăng cường quá trình phân hủy các chất vô cơ thành hợp chất hữu cơ có lợi, tăng sức đề kháng cho lươn và giảm nguy cơ dịch bệnh trong môi trường bể nuôi.
Thu hoạch: Sau 6 tháng nuôi, kích cỡ lươn đạt khoảng 0,3kg/con thì tiến hành thu hoạch.
Một số lưu ý trong phòng bệnh cho lươn thương phẩm:
Nguyên nhân lươn bị bệnh: Lươn mắc bệnh là kết quả tương tác giữa ba nhân tố: môi trường, tác nhân gây bệnh và vật chủ.
+ Yếu tố môi trường: Sự biến động lớn về nhiệt độ, pH, và hàm lượng oxy thấp sẽ gây sốc hoặc làm cho lươn suy yếu.
+ Tác nhân gây bệnh: Bao gồm bệnh truyền nhiễm (virus, vi khuẩn, nấm), bệnh ký sinh trùng (nguyên sinh động vật, giun sán, giáp xác…) và các sinh vật gây hại cho lươn làm tổn thương đến lươn tạo điều kiện cho bệnh ký sinh hay bệnh truyền nhiễm phát triển.
+ Yếu tố vật chủ: Sức đề kháng của lươn nuôi đối với bệnh.
+ Yếu tố khác (yếu tố con người): Kỹ thuật nuôi: Vận chuyển đánh bắt làm tổn thương lươn. Quản lý chăm sóc không tốt, mật độ thả nuôi quá cao.
Ngoài ra người nuôi cần lập và cập nhật, lưu trữ hồ sơ, ghi nhật ký về thả giống, chế độ cho ăn, sử dụng thuốc, chế phẩm, xuất nhập kho,... từ lúc bắt đầu nuôi cho tới sau khi thu hoạch để theo dõi, quản lý đồng thời phục vụ công tác truy suất nguồn gốc sản phẩm./.